Những điểm mới trong quản lý, sử dung công chức theo Nghị định số 300-NĐ-CP của Chính phủ

Font size : A- A A+

Trong thời gian qua, việc triển khai thực hiện Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng, góp phần đổi mới phương thức quản lý công chức theo hướng lấy vị trí việc làm làm trung tâm. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, một số quy định đã phát sinh những khó khăn, vướng mắc liên quan đến thẩm quyền quản lý công chức trong bối cảnh thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp, việc phân cấp, ủy quyền trong quản lý công chức và yêu cầu tiếp tục cải cách nền công vụ theo quy định của Luật Cán bộ, công chức năm 2025.

 

Nhằm kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh, hoàn thiện cơ sở pháp lý về quản lý công chức, ngày 29/7/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 300/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 170/2025/NĐ-CP ngày 30/6/2025 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2026, nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với đội ngũ công chức; đồng thời đáp ứng yêu cầu triển khai Luật Cán bộ, công chức năm 2025 và đẩy mạnh phân cấp, phân quyền trong quản lý công chức.

Một số điểm mới đáng chú ý của Nghị định số 300/2026/NĐ-CP như sau:

1. Mở rộng đối tượng tiếp nhận vào làm công chức, ưu tiên nguồn nhân lực chất lượng cao

Theo quy định mới, căn cứ nhu cầu sử dụng nhân lực có thể đáp ứng ngay yêu cầu công việc, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng được xem xét tiếp nhận vào làm công chức đối với nhiều nhóm đối tượng.

Trong đó, đáng chú ý là chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi, doanh nhân tiêu biểu, xuất sắc đang công tác ngoài khu vực công lập theo chính sách thu hút người có tài năng. Bên cạnh đó còn có viên chức; người hưởng lương trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, tổ chức cơ yếu nhưng không phải là công chức; người giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý từ cấp phòng trở lên tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoặc trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết.

Nghị định cũng tiếp tục quy định việc tiếp nhận đối với người từng là cán bộ, công chức được điều động sang cơ quan, tổ chức khác không phải là cơ quan công chức; người được tuyển dụng theo chỉ tiêu biên chế làm việc tại các hội do Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ; đội viên Đề án thí điểm tuyển chọn trí thức trẻ tình nguyện về các xã tham gia phát triển nông thôn, miền núi giai đoạn 2013 - 2020 sau khi kết thúc Đề án tiếp tục làm việc tại cấp xã.

Để được tiếp nhận vào làm công chức, các đối tượng phải đáp ứng đầy đủ điều kiện đăng ký dự tuyển theo Luật Cán bộ, công chức số 80/2025/QH15, không thuộc các trường hợp bị cấm hoặc đang trong thời gian xử lý kỷ luật theo quy định của Đảng và pháp luật.

Đối với nhóm chuyên gia, nhà khoa học, luật gia, luật sư giỏi và doanh nhân tiêu biểu, Nghị định yêu cầu phải có kết quả, sản phẩm, công trình, sáng kiến hoặc giải pháp khoa học đã được ứng dụng trong thực tiễn, mang lại hiệu quả rõ rệt, phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm và được cộng đồng khoa học hoặc cơ quan quản lý chuyên ngành công nhận.

Đối với các nhóm viên chức, người hưởng lương trong lực lượng vũ trang, lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước, người từng là cán bộ, công chức và đội viên Đề án trí thức trẻ, phải có ít nhất 5 năm công tác liên tục ở vị trí phù hợp với yêu cầu của vị trí việc làm dự kiến tiếp nhận; có đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định. Trường hợp có thời gian công tác ở nhiều vị trí thuộc các nhóm đối tượng nêu trên hoặc từng là cán bộ, công chức cấp xã thì được cộng dồn nếu đáp ứng điều kiện theo quy định.

Riêng trường hợp người từng là cán bộ, công chức được cơ quan có thẩm quyền điều động sang cơ quan, tổ chức khác theo yêu cầu nhiệm vụ thì không bắt buộc phải đáp ứng điều kiện về thời gian công tác 5 năm.

2. Công nhân, viên chức quốc phòng thôi việc được cộng 2,5 điểm khi tuyển dụng công chức

Điều 1 Nghị định 300 2026 NĐ CP sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 6 Nghị định 170/2025/NĐ-CP, bổ sung công nhân, viên chức quốc phòng thôi việc còn trong độ tuổi lao động và trí thức trẻ tình nguyện đến công tác tại khu kinh tế - quốc phòng sau khi hoàn thành nhiệm vụ vào nhóm được cộng 2,5 điểm ưu tiên khi thi tuyển hoặc xét tuyển công chức.

Như vậy, từ ngày 01/8/2026, có 05 nhóm đối tượng được hưởng mức ưu tiên này gồm: người hoàn thành nghĩa vụ quân sự; người hoàn thành nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; công nhân, viên chức quốc phòng thôi việc còn trong độ tuổi lao động; đội viên thanh niên xung phong và trí thức trẻ tình nguyện tại khu kinh tế - quốc phòng.

So với Nghị định 170/2025, điểm mới là bổ sung thêm 02 nhóm đối tượng nêu trên. Quy định về việc người dự tuyển thuộc nhiều diện ưu tiên chỉ được hưởng mức ưu tiên cao nhất vẫn được giữ nguyên.

3. Bỏ quy định thành lập Hội đồng kiểm tra, sát hạch khi tiếp nhận vào làm công chức

Điều 4 Nghị định 300/2026 sửa đổi toàn bộ Điều 14 Nghị định 170/2025 theo hướng đơn giản hóa thủ tục tiếp nhận công chức.

Theo quy định mới, căn cứ nhu cầu sử dụng nhân lực, bộ phận tổ chức cán bộ nghiên cứu, đề xuất việc tiếp nhận đối với người đáp ứng đủ điều kiện, sau đó người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng quyết định việc tiếp nhận.

Đối với trường hợp tiếp nhận để bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý, việc tiếp nhận được thực hiện đồng thời với quy trình bổ nhiệm; quyết định bổ nhiệm đồng thời là quyết định tiếp nhận.

Đây là điểm thay đổi đáng chú ý bởi Nghị định 170/2025/NĐ-CP trước đây yêu cầu thành lập Hội đồng kiểm tra, sát hạch để đánh giá trình độ, năng lực chuyên môn của người được tiếp nhận và quy định cụ thể quy trình tổ chức sát hạch. Toàn bộ quy trình này đã được bãi bỏ.

4. Người trúng tuyển chỉ còn 15 ngày để hoàn thiện hồ sơ tuyển dụng

Điều 5 Nghị định 300/2026/NĐ-CP sửa đổi Điều 18 Nghị định 170/2025/NĐ-CP, rút ngắn thời hạn hoàn thiện hồ sơ tuyển dụng từ 20 ngày xuống còn 15 ngày kể từ ngày công khai danh sách trúng tuyển.

Hồ sơ tuyển dụng gồm văn bằng, chứng chỉ theo yêu cầu của vị trí việc làm (không bao gồm chứng chỉ tin học) và giấy tờ chứng minh đối tượng ưu tiên nếu có. Phiếu lý lịch tư pháp sẽ do cơ quan tuyển dụng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền cấp.

Đồng thời, Nghị định bổ sung các trường hợp bị hủy kết quả trúng tuyển như: không hoàn thiện hồ sơ đúng thời hạn; kê khai gian dối; sử dụng văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp; hoặc đã hoàn thiện hồ sơ nhưng không đến nhận việc đúng quy định.

Nếu có người bị hủy kết quả, cơ quan tuyển dụng được xem xét tuyển dụng người có kết quả thấp hơn liền kề ở cùng vị trí việc làm. Đây là quy định hoàn toàn mới so với Nghị định 170/2025/NĐ-CP.

5. Quyết định tuyển dụng phải ban hành trong 3 ngày làm việc

Theo Điều 6 Nghị định 300/2026/NĐ-CP, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi hết thời hạn hoàn thiện hồ sơ, người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng phải ban hành quyết định tuyển dụng và gửi cho người trúng tuyển.

Quyết định tuyển dụng phải thể hiện rõ việc tuyển dụng, bố trí vị trí việc làm và xếp ngạch công chức tương ứng.

Sau khi nhận quyết định, người được tuyển dụng phải đến nhận việc trong 15 ngày, trừ trường hợp được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận gia hạn hoặc quyết định tuyển dụng quy định thời hạn khác.

So với Nghị định 170/2025/NĐ-CP, thời hạn ban hành quyết định tuyển dụng giảm từ 05 ngày xuống còn 03 ngày, đồng thời thời hạn nhận việc cũng giảm từ 30 ngày xuống còn 15 ngày, góp phần rút ngắn toàn bộ quy trình tuyển dụng.

6. Bổ sung điều kiện khi bố trí công chức vào vị trí việc làm có ngạch cao hơn

Điều 8 Nghị định 300/2026 của Chính phủ sửa đổi Điều 23 Nghị định 170/2025, bổ sung nguyên tắc và điều kiện cụ thể khi bố trí công chức sang vị trí việc làm có ngạch cao hơn.

Ngoài việc đáp ứng tiêu chuẩn của vị trí việc làm, công chức phải được xếp loại từ hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong năm công tác liền kề, không thuộc trường hợp bị xem xét kỷ luật hoặc bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; đồng thời phải có quá trình trực tiếp tham mưu thực hiện công việc có mức độ phức tạp tương đương vị trí dự kiến bố trí.

Bên cạnh đó, cơ quan sử dụng công chức phải xây dựng phương án thay đổi vị trí việc làm, trong đó xác định rõ tiêu chí lựa chọn, kết quả đánh giá hằng năm và số lượng công chức đáp ứng điều kiện. Đây là nội dung chưa được quy định cụ thể tại Nghị định 170/2025/NĐ-CP.

7. Lần đầu quy định việc bố trí công chức sang vị trí có ngạch thấp hơn

Cũng tại Điều 23 được sửa đổi, Nghị định 300/2026/NĐ-CP lần đầu quy định cụ thể việc bố trí công chức sang vị trí việc làm có ngạch thấp hơn.

Việc thay đổi được thực hiện trong hai trường hợp:

- Công chức không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ theo kết quả đánh giá

- Hoặc có đơn tự nguyện đề nghị và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.

Đối với trường hợp không hoàn thành nhiệm vụ, việc bố trí chỉ thực hiện khi còn vị trí việc làm phù hợp với trình độ, năng lực và còn chỉ tiêu theo cơ cấu đã được phê duyệt. Nếu không còn vị trí phù hợp thì cấp có thẩm quyền xem xét cho thôi việc và giải quyết chế độ theo quy định.

Đây là quy định hoàn toàn mới vì Nghị định 170/2025/NĐ-CP chưa quy định cụ thể vấn đề này.

8. Bổ sung nguyên tắc xếp lương khi thay đổi vị trí việc làm

Điều 9 Nghị định 300/2026/NĐ-CP sửa đổi Điều 24 Nghị định 170/2025/NĐ-CP, quy định rõ nguyên tắc xếp ngạch, xếp lương tương ứng với từng trường hợp thay đổi vị trí việc làm.

Khi được bố trí vào vị trí có ngạch cao hơn, công chức được xếp vào bậc lương có hệ số bằng hoặc cao hơn gần nhất so với hệ số đang hưởng. Nếu tổng hệ số lương hiện hưởng vượt hệ số bậc cuối của ngạch mới thì được xếp vào bậc cuối và hưởng hệ số chênh lệch bảo lưu.

Đối với trường hợp chuyển sang vị trí có ngạch cùng thứ bậc hoặc thấp hơn theo quy định, công chức vẫn được bảo đảm quyền lợi thông qua cơ chế bảo lưu hệ số chênh lệch trong các trường hợp đủ điều kiện.

So với Nghị định 170/2025/NĐ-CP, quy định mới đã phân định rõ cách xếp lương theo từng tình huống thay đổi vị trí việc làm.

9. Bổ sung điều kiện gia hạn biệt phái công chức

Điều 10 Nghị định 300/2026/NĐ-CP sửa đổi Điều 26 Nghị định 170/2025/NĐ-CP, bổ sung quy định về việc gia hạn biệt phái công chức.

Theo đó, thời gian biệt phái vẫn không quá 03 năm, tuy nhiên chỉ được gia hạn khi nhiệm vụ đột xuất, cấp bách chưa hoàn thành vì lý do khách quan.

Sau khi kết thúc biệt phái, công chức được trở về cơ quan cũ và phải được bố trí vị trí việc làm phù hợp. Đồng thời, trước khi quyết định biệt phái, cơ quan cử và cơ quan tiếp nhận phải thống nhất bằng văn bản, đồng thời trao đổi trực tiếp với công chức về yêu cầu nhiệm vụ.

Ngoài ra, Nghị định tiếp tục giữ nguyên nguyên tắc cơ quan cử biệt phái chịu trách nhiệm trả lương và bảo đảm các quyền lợi của công chức trong thời gian biệt phái; nếu nơi được cử đến có phụ cấp hoặc chính sách đặc thù thì công chức vẫn được hưởng theo quy định.

10. Tăng cường yêu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý

 Điều 12 Nghị định 300/2026 của Chính phủ sửa đổi Điều 29 Nghị định 170/2025, về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm được sửa đổi theo hướng tăng cường yêu cầu về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý. Theo quy định mới, người được bổ nhiệm phải bảo đảm tiêu chuẩn chung theo quy định của Đảng, pháp luật và tiêu chuẩn cụ thể của chức vụ; có hồ sơ, lý lịch và kê khai tài sản đầy đủ; được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên trong ba năm gần nhất; có kinh nghiệm công tác, quản lý, điều hành, thành tích và sản phẩm cụ thể phù hợp với chức vụ dự kiến bổ nhiệm.

Đối với nhân sự tại chỗ hoặc nhân sự từ nơi khác, việc bổ nhiệm cơ bản phải gắn với quy hoạch chức danh tương ứng hoặc cao hơn. Trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định trên cơ sở đánh giá toàn diện về thành tích, kết quả, sản phẩm và chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình.

Đối với trường hợp bổ nhiệm giữ chức vụ cao hơn, công chức phải có thời gian giữ chức vụ liền kề hoặc tương đương tối thiểu 12 tháng, trừ trường hợp đặc biệt do cấp có thẩm quyền quyết định. Người được đề nghị bổ nhiệm lần đầu hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ cao hơn cũng phải bảo đảm đủ tuổi để công tác trọn thời hạn bổ nhiệm, đủ sức khỏe thực hiện nhiệm vụ và không thuộc các trường hợp đang bị xem xét xử lý kỷ luật, điều tra, truy tố, xét xử hoặc bị cấm đảm nhiệm chức vụ theo quy định.

11. Quy định về trường hợp đơn vị chưa có người đứng đầu hoặc khuyết chức danh lãnh đạo, quản lý

Nghị định bổ sung, hoàn thiện quy định xử lý trường hợp cơ quan, đơn vị chưa có người đứng đầu hoặc khuyết chức danh lãnh đạo, quản lý. Theo đó, cấp có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét bố trí nhân sự thực hiện nhiệm vụ quản lý, điều hành nhằm bảo đảm hoạt động của cơ quan, đơn vị được liên tục, không bị gián đoạn. Việc giao quyền, giao phụ trách hoặc bố trí người thực hiện nhiệm vụ đứng đầu phải bảo đảm đúng thẩm quyền, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và trách nhiệm quản lý cán bộ.

Việc ban hành Nghị định số 300/2026/NĐ-CP có ý nghĩa quan trọng trong việc tiếp tục hoàn thiện thể chế về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức; tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm của người đứng đầu; nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý đội ngũ công chức. Đối với tỉnh Quảng trị, việc triển khai thực hiện Nghị định số 300/2026/NĐ-CP là cơ sở để các cơ quan, đơn vị tiếp tục rà soát, hoàn thiện công tác quản lý công chức, gắn với vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức và yêu cầu nhiệm vụ; góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới.

                                                                                   

                                                                        Nguyễn Văn Túc – Phòng CBCCVC